Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://www.jns.vn/index.php/journal
<p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học & công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p>Trường Đại học Điều dưỡng Nam Địnhvi-VNTạp chí Khoa học Điều dưỡng2615-9589Gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc bệnh nhân ung thư tại một số bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
https://www.jns.vn/index.php/journal/article/view/1148
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định mức độ gánh nặng chăm sóc và mối liên quan với các yếu tố nhân khẩu học ở người chăm sóc bệnh nhi ung thư.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 304 người chăm sóc gia đình bằng thang đo Gánh nặng chăm sóc (Caregiver Burden Inventory - CBI) gồm 24 mục chia thành 5 khía cạnh, tổng điểm từ 0 đến 100 (điểm càng lớn gánh nặng càng cao). Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và phân tích phương sai một chiều ANOVA.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Gánh nặng chăm sóc chung ở mức cao (50,55 ± 8,60). Gánh nặng phụ thuộc thời gian (12,33 ± 2,81) và thể chất (12,35 ± 2,75) ở mức cao; gánh nặng phát triển (11,27 ± 2,67) và xã hội (11,85 ± 2,18) ở mức trung bình; gánh nặng cảm xúc thấp (5,21 ± 3,44). Kết quả cho thấy tình trạng hôn nhân là yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc chung (F = 3,003; p = 0,031) và gánh nặng cảm xúc (F = 3,910; p = 0,009). Ngoài ra, nơi sinh sống có liên quan có ý nghĩa thống kê với gánh nặng cảm xúc (F = 4,453; p = 0,004). Không ghi nhận mối liên quan với các yếu tố tuổi, giới, mối quan hệ với bệnh nhi và tình trạng việc làm.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Người chăm sóc bệnh nhi ung thư chịu gánh nặng chăm sóc ở mức cao. Cần triển khai các biện pháp hỗ trợ tâm lý và hướng dẫn kỹ năng chăm sóc nhằm giảm gánh nặng cho người chăm sóc</p>Thị Kim Liên NguyễnThị Rảnh Nguyễn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-04-292026-04-2990361310.54436/jns.2026.03.1148Hiệu quả của can thiệp đa thành phần đối với kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng
https://www.jns.vn/index.php/journal/article/view/1296
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp đa thành phần đối với kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu can thiệp đánh giá trước- sau được thực hiện từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026 trên 200 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tại xã Liên Minh, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Can thiệp bao gồm tập huấn trực tiếp, cung cấp tài liệu, duy trì tương tác qua các nền tảng số và truyền thông qua loa phát thanh. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc có độ tin cậy tốt (Cronbach’s Alpha 0,77–0,88).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sau can thiệp, KAP cải thiện rõ rệt (p < 0,001). Điểm kiến thức tăng từ 11,55 ± 4,44 lên 32,32 ± 2,77; tỷ lệ đạt mức tốt là 75,5%. Điểm thái độ tăng từ 23,19 ± 8,46 lên 36,26 ± 2,06 (d = 7,53). Điểm thực hành tăng từ 2,57 lên 4,60; kỹ năng tự khám vú cải thiện rõ nhất (0,69 lên 4,50; d = 2,09). Tỷ lệ thực hành chủ động tăng từ 28,0% lên 56,5%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Mô hình can thiệp đa thành phần cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao KAP về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ cộng đồng. Cần duy trì và nhân rộng mô hình để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe phụ nữ.</p>Thị Minh Chính NguyễnThị Bích Ngọc PhạmThị Hồng Hạnh TrầnThị Thanh Hường NguyễnThị Là VũThị Thủy ĐàoThị Huyền Trang NguyễnThị Cẩm Nhung TrầnTrường Minh ĐàoVăn Thọ Trần
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-05-082026-05-08903142210.54436/jns.2026.03.1296Kiến thức về sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ của cha mẹ bệnh nhi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Nam Định năm 2025
https://www.jns.vn/index.php/journal/article/view/1279
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ của cha mẹ bệnh nhi điều trị nội trú tại Bệnh Viện Nhi Nam Định năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 cha mẹ có con đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Nam Định từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2025. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc, phân tích bằng SPSS 20.0.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: 53,2% cha mẹ có kiến thức đạt về sử dụng kháng sinh; điểm trung bình 12,6 ± 3,0 (tối đa 20 điểm). Kiến thức đúng cao nhất về việc tuân thủ đủ liều kháng sinh (89,8%), thấp nhất về biện pháp rửa tay phòng ngừa kháng kháng sinh (49,5%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức của cha mẹ với nhóm tuổi (OR: 3,659; 95% CI: 2,1-6,4), nghề nghiệp (OR: 4,625; 95% CI: 1,8-11,8), trình độ học vấn (OR: 11,420; 95% CI: 5,5-23,6) và thu nhập (OR: 29,867; 95% CI: 11,3-79,1) với p < 0,05.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức sử dụng kháng sinh cho trẻ của cha mẹ bệnh nhi điều trị nội trú chưa tốt, cần tăng cường truyền thông – giáo dục sức khỏe, đặc biệt với cha mẹ trẻ tuổi, thu nhập thấp và lao động phổ thông.</p>Thị Vân Lan Hoàng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-05-112026-05-11903233110.54436/jns.2026.03.1279